Viêm quanh răng

Viêm quanh răng là một bệnh viêm mạn tính của lợi do nhiễm trùng cơ hội của mảng bám màng sinh học nội sinh. Nó thường biểu hiện như viêm lợi ngày càng tồi tệ hơn và sau đó, nếu không được điều trị sẽ dẫn đến lung lay răng và mất răng. Các triệu chứng khác rất hiếm gặp, ngoại trừ những bệnh nhân nhiễm HIV hoặc những người có áp xe phát triển, trong trường hợp đó đau và sưng là phổ biến. Chẩn đoán dựa trên khám, thăm dò quanh răng và chụp phim X quang. Điều trị bao gồm làm sạch răng đến dưới lợi kết hợp vệ sinh răng miệng cẩn thận tại nhà. Các trường hợp nặng có thể cần sử dụng kháng sinh và phẫu thuật.
Sinh lý bệnh
Viêm quanh răng thường phát triển khi viêm lợi, với nhiều mảng bám và cao răng tích tụ dưới đường viền lợi, mà chưa được điều trị đầy đủ. Trong viêm quanh răng, các túi lợi sâu có thể chứa các vi khuẩn gram âm, chúng gây hại nhiều hơn các vi khuẩn thường có trong viêm lợi. Các sinh vật gây ra sự giải phóng mạn tính các chất trung gian gây viêm, bao gồm cytokine, prostaglandin và các enzyme từ bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân. Quá trình viêm gây ảnh hưởng đến dây chằng nha chu, lợi, cement, và xương ổ răng. Dần dần lợi mất bám dính với răng, bắt đầu mất xương và túi quanh răng trở nên sâu hơn. Với sự mất xương tiến triển, răng có thể lung lay, và lợi bị tụt. Ở giai đoạn sau, răng di lệch là phổ biến và có thể mất răng.

Các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được góp phần gây viêm quanh răng bao gồm:

Mảng bám
Hút thuốc
Béo phì
Bệnh tiểu đường (đặc biệt là typ 1)
Căng thẳng tâm lý
Thiếu vitamin C (Scurvy)
Việc giải quyết các tình trạng này có thể cải thiện kết quả điều trị bệnh viêm quanh răng.

Phân loại
Các phân loại được mô tả ở đây dựa trên hệ thống phân loại của Viện Hàn lâm Nha chu Hoa Kỳ (AAP) về các bệnh và các tình trạng nha chu (1999):

Viêm quanh răng mạn tính (trước đây gọi là viêm quanh răng ở người lớn)
Viêm quanh răng tiến triển nhanh (trước đây là và viêm quanh răng tuổi dậy thì khởi phát sớm)
Viêm quanh răng là biểu hiện của các bệnh hệ thống
Viêm quanh răng loét hoại tử (trước đây gọi là viêm quanh răng HIV)
Các phân loại AAP khác là áp xe quanh răng, viêm quanh răng liên quan đến các tổn thương nội nha, và các biến dạng và tình trạng mắc phải hoặc trong quá trình phát triển. Trong các biến dạng và các tình trạng do mắc phải hoặc xảy ra trong quá trình phát triển, biến dạng khớp cắn, gây ra quá tải chức năng lên răng, cộng thêm mảng bám và viêm lợi có thể góp phần tiến triển một loại bệnh viêm quanh răng nhất định đặc trưng bởi tiêu xương chéo.

Viêm quanh răng mạn tính
Viêm quanh răng mạn tính là loại viêm quanh răng phổ biến nhất. Thường gặp nhất ở người lớn > 35 tuổi, nhưng thanh thiếu niên và thậm chí cả trẻ đang còn răng sữa cũng có thể mắc. Nó đặc trưng bởi tốc độ tiến triển chậm, với những giai đoạn trầm trọng và thuyên giảm, và cũng bởi mối tương quan giữa mức độ phá hủy và sự hiện diện của các yếu tố tại chỗ như mảng bám.

Khoảng 85% dân số mắc bệnh ở mức độ nhẹ, nhưng các trường hợp rất nặng gặp ở < 5% dân số. Do sự tiến triển chậm của nó, độ tuổi của bệnh nhân hiện tại không cho biết là khi nào bệnh đã bắt đầu. Bệnh nhân có bệnh rõ rệt thường là những người > 35 tuổi, và mất răng thường bắt đầu khi bệnh nhân trên 40 tuổi.

cận cảnh lợi bị tụt ở một người mắc bệnh quanh răng. Bệnh quanh răng đã gây ra sự mất mô lợi quanh răng dưới (răng hàm dưới).

 

Dựa vào mức độ bệnh, viêm quanh răng mạn tính được phân loại như sau đây:

Khu trú: ≤ 30% số răng bị ảnh hưởng
Toàn bộ: > 30% số răng bị ảnh hưởng
Viêm quanh răng tiến triển nhanh
Viêm quanh răng tiến triển nhanh ít gặp hơn viêm quanh răng mạn tính . Nó thường xảy ra ở trẻ em (đôi khi dưới 3 tuổi) hoặc thanh niên, nhưng cũng xảy ra ở người già. Nó có tính chất gia đình và gây mất xương nhanh và thậm chí mất răng. Mức độ phá hủy thường là không cân xứng với mức độ mảng bám hoặc cao răng. Theo định nghĩa, bệnh nhân không có bệnh lý toàn thân, trong khi những trường hợp viêm quanh răng là một biểu hiện của bệnh hệ thống, bệnh nhân có một bệnh hệ thống. Chức năng của bạch cầu trung tính và đại thực bào/bạch cầu đơn nhân có thể bất thường.

Viêm quanh răng tiến triển nhanh khu trú (trước đây gọi là bệnh viêm quanh răng tuổi vị thành niên), xảy ra chủ yếu ở những thanh thiếu niên khoẻ mạnh. Bệnh nhân có quần thể lớn vi khuẩn Aggregatibacter actinomycetemcomitans (trước đây là Actinobacillus actinomycetemcomitans), và thường có phản ứng kháng thể mạnh tác động lên vi khuẩn gây viêm. Thông thường, các dấu hiệu viêm là nhẹ. Bệnh này được phát hiện bằng việc thăm dò nha chu hoặc chụp phim X quang với hình ảnh tiêu xương sâu (dọc) khu trú. Bệnh liên quan đến ít nhất hai răng trong số các răng hàm lớn thứ nhất và răng cửa và ảnh hưởng thêm không quá 2 răng khác nữa. Tiêu xương diễn ra nhanh hơn viêm quanh răng mạn tính, thường ở mức từ 3 đến 4 μm/ngày; vẫn chưa rõ ràng là viêm quanh răng tiến triển nhanh khu trú có thể tự ngừng lại hay không.

Viêm quanh răng tiến triển nhanh toàn bộ (trước đây gọi là viêm quanh răng tiến triển nhanh) xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân từ 20 đến 35 tuổi. Nó thường liên quan đến A. actinomycetemcomitans, Porphyromonas gingivalis, Eikenella corrodens, và nhiều vi khuẩn gram âm, nhưng nguyên nhân và ảnh hưởng không rõ ràng. Thường xảy ra đáp ứng kháng thể yếu lên vi khuẩn gây bệnh. Tất cả răng có thể bị ảnh hưởng, nhưng phải bao gồm ≥ 3 răng không phải là răng hàm lớn thứ nhất hoặc răng cửa.

Viêm quanh răng trước tuổi dậy thì, là một dạng không thông thường trong nhóm viêm quanh răng tiến triển nhanh (và không được ghi nhận trong phân loại AAP 1999) có thể là kết quả của một trong những rối loạn di truyền được liệt kê dưới đây (xem Viêm quanh răng là một biểu hiện của bệnh hệ thống) nhưng cũng có thể có đột biến riêng. Nó ảnh hưởng đến các răng sữa, thường là sau khi mọc răng một thời gian ngắn. Dấu hiệu của nó là viêm lợi phì đại cấp tính toàn bộ và nhanh phá hủy xương ổ răng. Bệnh nhân cũng thường có những đợt viêm tai giữa và thường được chẩn đoán lúc 4 tuổi. Ở một số bệnh nhân, bệnh này sẽ hết trước khi mọc răng vĩnh viễn.

Viêm quanh răng là một biểu hiện của bệnh hệ thống
Viêm quanh răng là một biểu hiện của bệnh hệ thống được xem xét ở những bệnh nhân có mức độ viêm không cân xứng với mảng bám hoặc các yếu tố tại chỗ khác và bệnh nhân đó đang có bệnh hệ thống. Tuy nhiên, phân biệt có phải bệnh hệ thống gây ra viêm quanh răng hoặc làm tăng thêm viêm quanh răng do mảng hay không thường là khó khăn.

Các bệnh hệ thống liên quan đến các rối loạn về máu có thể biểu hiện như viêm quanh răng bao gồm

Giảm bạch cầu trung tính mắc phải
Mất bạch cầu hạt
Bệnh bạch cầu
Hội chứng bạch cầu lười
Giảm gammaglobulin huyết
Các bệnh hệ thống liên quan đến rối loạn di truyền có thể biểu hiện như viêm quanh răng bao gồm

Bệnh giảm bạch cầu trung tính có tính gia đình và chu kỳ
Hội chứng Down
Hội chứng thiếu hụt bạch cầu bám dính
Hội chứng Papillon-Lefèvre
Hội chứng Chédiak-Higashi
Hội chứng mô bào huyết
Bệnh lưu trữ glycogen
Chứng mất bạch cầu hạt ở trẻ sơ sinh do di truyền
Hội chứng Ehlers-Danlos (loại IV và VIII)
Bệnh giảm phosphat máu
Hội chứng Cohen
Bệnh Crohn
Viêm quanh răng loét hoại tử
Viêm quanh răng loét hoại tử là một bệnh tiến triển rất nhanh. Nó thường được gọi là Viêm quanh răng liên quan đến HIV vì HIV là nguyên nhân phổ biến. Về mặt lâm sàng, nó giống viêm lợi loét hoại tử cấp kết hợp với viêm quanh răng tiến triển nhanh toàn bộ. Bệnh nhân có thể bị mất bám dính từ 9 đến 12 mm trong vòng 6 tháng.

Các triệu chứng và dấu hiệu
Thường không đau trừ khi có nhiễm trùng cấp xảy ra trong một hoặc nhiều túi nha chu hoặc bệnh nhân đang có bệnh viêm quanh răng liên quan đến HIV. Khi ăn, thức ăn lèn vào túi lợi có thể gây ra đau. Đặc trưng bởi nhiều mảng bám và sưng, đỏ, chảy dịch. Lợi có thể nhạy cảm và dễ chảy máu, hơi thở có thể hôi. Nếu răng lung lay, đặc biệt là khi chỉ còn 1/3 chân răng nằm trong xương thì sẽ đau khi nhai.

Viêm quanh răng (Tụt lợi)
c0237582-periodontitis-receding-gums-science-photo-library-high_vi
BÁC SĨ W. GRENN / CNRI / THƯ VIỆN ẢNH KHOA HỌC

Viêm quanh răng
m7820188-periodontitis-science-photo-library-high_vi
CNRI / THƯ VIỆN HÌNH ẢNH KHOA HỌC

Chẩn đoán
Đánh giá lâm sàng
Đôi khi cần chụp X quang nha khoa
Việc khám răng và lợi kết hợp với việc khám và đo độ sâu túi lợi thường là đủ để chẩn đoán. Các túi lợi sâu hơn 4 mm cho thấy bệnh viêm quanh răng.

X quang nha khoa cho thấy tiêu xương ổ răng bên cạnh túi nha chu.

Điều trị
Điều trị các yếu tố nguy cơ
Lấy cao răng và làm nhẵn chân răng
Đôi khi sử dụng kháng sinh đường uống, đặt băng thuốc chứa kháng sinh, hoặc cả hai
Phẫu thuật hoặc nhổ răng
Điều trị các yếu tố nguy cơ như vệ sinh răng miệng kém, bệnh tiểu đường, và hút thuốc sẽ cải thiện kết quả.

Đối với tất cả các dạng viêm quanh răng, pha điều trị khởi đầu bao gồm lấy cao răng (làm sạch bằng dụng cụ bằng tay hoặc bằng siêu âm) và làm nhẵn chân răng (loại bỏ mô cement và ngà bệnh lý sau đó làm nhẵn chân răng) để loại bỏ mảng bám và cao răng. Việc vệ sinh răng miệng tại nhà là cần thiết, bao gồm việc đánh răng cẩn thận, dùng chỉ nha khoa và sử dụng đầu cao su giúp làm sạch. Có thể bôi hoặc súc miệng bằng chlorhexidine. Nha sĩ có thể hướng dẫn bệnh nhân thực hiện các thao tác trên. Bệnh nhân được đánh giá lại sau 3 tuần. Nếu tại thời điểm này, túi lợi không sâu hơn 4mm thì chỉ cần điều trị bằng cách làm sạch định kỳ. Đôi khi cần tạo vạt lợi để có thể tiếp cận và làm sạch phần chân răng nằm sâu.

Nếu túi lợi sâu hơn thì có thể sử dụng kháng sinh toàn thân. Phác đồ chung là amoxicillin 500mg đường uống 3 lần một ngày trong 10 ngày. Ngoài ra, gel có doxycycline hoặc các vi cầu chứa minocycline có thể được đặt vào các túi lợi đơn lẻ và khó chữa. Những loại thuốc trên tiêu trong vòng 2 tuần.

Một phương pháp khác là phẫu thuật loại bỏ túi và tạo hình xương (phẫu thuật loại bỏ túi lợi) để bệnh nhân có thể làm sạch khi rãnh lợi bình thường. Ở một số bệnh nhân, phẫu thuật tái tạo và ghép xương được thực hiện để kích thích tăng trưởng xương ổ răng. Nẹp các răng lung lay và mài chỉnh bề mặt răng có thể cần thiết để loại bỏ sang chấn khớp cắn. Nhổ răng thường cần thiết trong những ca bệnh nặng. Kiểm soát các yếu tố hệ thống góp phần trước khi bắt đầu điều trị nha chu.

Chín mươi phần trăm bệnh nhân viêm quanh răng loét hoại tử do HIV (viêm quanh răng liên quan đến HIV) đáp ứng với điều trị phối hợp lấy cao răng và làm nhẵn chân răng, bởm rửa túi lợi bằng povidone-iode (nha sĩ bơm bằng bơm tiêm), súc miệng thường xuyên bằng chlorhexidine, sử dụng kháng sinh toàn thân, thường là metronidazole 250mg đường uống 3 lần 1 ngày trong 14 ngày.

Viêm quanh răng tiến triển nhanh khu trú đòi hỏi phải phẫu thuật nha chu và sử dụng kháng sinh đường uống (ví dụ, amoxicillin 500 mg 4 lần/ngày hoặc metronidazole 250 mg 3 lần 1 ngày trong 14 ngày).

Những điểm chính
Viêm quanh răng là một phản ứng viêm gây ra bởi vi khuẩn trong mảng bám răng.
Có sự tiêu xương ổ răng, hình thành các túi lợi sâu, và thậm trí làm lung lay răng.
Điều trị bao gồm đến lấy cao răng và làm nhẵn chân răng, đôi khi phải sử dụng thuốc kháng sinh và/hoặc phẫu thuật.