Sâu răng

âu răng là hiện tượng răng bị phá hủy, thường được gọi là lỗ sâu. Các triệu chứng như đau, nhạy cảm thường xuất hiện muộn. Chẩn đoán dựa trên việc kiểm tra, thăm dò bề mặt men răng bằng dụng cụ kim loại cứng và chụp X quang nha khoa. Điều trị bao gồm loại bỏ cấu trúc răng bị ảnh hưởng và phục hồi lại bằng các vật liệu khác nhau. Fluor, vệ sinh răng miệng hằng ngày, trám bít hỗ rãnh, và chế độ ăn uống hợp lý gần như có thể ngăn ngừa tất cả các trường hợp sâu răng.

 

Nguyên nhân

Sâu răng là do các axit sinh ra bởi vi khuẩn trong mảng bám răng. Mảng bám răng, ban đầu, là một màng mỏng chứa vi khuẩn, mucin, tế bào biểu mô chết, và mảnh vụn thức ăn phát triển trên bề mặt răng trong vòng 24 giờ sau khi răng được làm sạch. Streptococcus mutans là nhóm vi khuẩn có liên quan, chúng phát triển trong mảng bám và có thể gây sâu răng. Một số chủng vi khuẩn gây sâu răng mạnh hơn các chủng khác. Cuối cùng (thông thường, sau 72 giờ), mảng bám khoáng hóa mềm, chủ yếu là với canxi, phosphat, và các khoáng chất khác, trở thành cao răng (mảng bám cứng hoặc vôi răng), không thể dễ dàng loại bỏ bằng bàn chải đánh răng.

Các yếu tố nguy cơ

Có một số yếu tố nguy cơ gây sâu răng:

Kiểm soát mảng bám không tốt

Khiếm khuyết nha khoa

Chế độ ăn nhiều carbohydrat và đường

Môi trường có nồng độ axit cao và/hoặc fluor thấp

Giảm lưu lượng nước bọt (ví dụ, do thuốc, xạ trị, rối loạn toàn thân ảnh hưởng đến chức năng tuyến nước bọt)

Nhiều răng có hố và rãnh lớn, có thể đi sâu từ bề mặt đến ngà răng. Những khuyết hổng này có thể đủ rộng để chứa vi khuẩn nhưng lại quá hẹp để được làm sạch một cách hiệu quả. Chúng có thể dẫn đến sâu răng.

Chế độ ăn chứa nhiều carbohydrat và đường sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của các vi khuẩn hình thành mảng bám. Sự phát triển của sâu răng nặng ở trẻ nhỏ (sâu răng tràn lan) ở những chiếc răng rụng cho thấy trẻ tiếp xúc lâu với sữa công thức, sữa hoặc nước trái cây, thường là khi trẻ sơ sinh đi ngủ với bình sữa (sâu răng ở trẻ nhỏ hoặc bú mẹ). Do đó, các chai bú bình lúc ngủ chỉ nên chứa nước.

Bề mặt răng nhạy cảm với sâu răng hơn khi nó vôi hoá kém, ít tiếp xúc với fluor và/hoặc trong môi trường axit. Thông thường, mất canxi bắt đầu khi pH trên răng giảm xuống dưới 5,5 (ví dụ, khi vi khuẩn sản sinh ra acid lactic nhân lên hoặc sử dụng nước uống cola có chứa axit photphoric).

Sâu răng (trong khi thăm khám)

 

HÌNH ẢNH ĐƯỢC CUNG CẤP BỞI BS. NHA KHOA JONATHAN A. SHIP.

 

 

Người cao tuổi thường dùng các thuốc làm giảm lưu lượng nước bọt, dẫn đến sâu răng. Người cao tuổi cũng có tỉ lệ sâu răng cao hơn do sự tụt lợi, bề mặt chân răng bị bộc lộ và khả năng thao tác bằng tay giảm (vệ sinh miệng không hiệu quả).

Các loại lỗ sâu

 

Biến chứng

Sâu răng không được điều trị sẽ dẫn đến phá hủy răng, nhiễm trùng dẫn đến phải nhổ răng và thay thế bằng răng giả. Mất răng sữa có thể làm di chuyển các răng bên cạnh làm cản trở mọc các răng vĩnh viễn tương ứng của chúng.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Ban đầu chỉ sâu ở men răng và không có triệu chứng. Sâu tiến triển vào ngà răng gây đau, đầu tiên là đau khi tiếp xúc với nóng, lạnh, hoặc khi thức ăn và đồ uống ngọt tiếp xúc với răng, sau đó là đau khi nhai hoặc gõ. Đau có thể dữ dội và dai dẳng khi tủy bị ảnh hưởng (Viêm tủy).

Chẩn đoán

Khám trực tiếp

Đôi khi cần chụp phim X quang hoặc kiểm tra bằng các dụng cụ xét nghiệm chuyên dụng

Caries (on X-ray)

 

HÌNH ẢNH ĐƯỢC CUNG CẤP BỞI BS. JAMES UBERTALLI.

 

 

Thường xuyên (mỗi 3-12 tháng) kiểm tra để phát hiện sâu răng sớm khi mà can thiệp tối thiểu có thể ngăn chúng tiến triển. Sử dụng một cây thám trâm nhọn, đôi khi cần chất nhuộm màu chuyên dụng, và sử dụng ánh sáng sợi quang học từ các các thiết bị mới để phát hiện sâu răng thông qua sự thay đổi tính dẫn điện hoặc phản xạ laser. Tuy nhiên, X quang vẫn là quan trọng nhất để phát hiện sâu răng, xác định độ sâu tổn thương, và xác định sâu răng dưới các phục hình hiện có.

Điều trị

Điều trị phục hồi

Đôi khi cần điều trị tủy và làm chụp bọc

Tái khoáng cho răng

Sâu răng sớm (được giới hạn trong men răng) nên được điều trị tái khoáng bằng cách cải thiện chăm sóc tại nhà (đánh răng và sử dụng chỉ nha khoa), làm sạch, kê thuốc đánh răng có hàm lượng fluor cao, và sử dụng các chế phẩm chứa fluor tại cơ sở nha khoa.

Phục hồi răng

Điều trị sâu răng đã tiến triển đến ngà răng là khoan sạch tổ chức sâu, sau đó hàn lỗ sâu lại.

Hàn mặt nhai cho những răng sau, những răng chịu lực nhai phải sử dụng các vật liệu chịu lực, bao gồm

Amalgam bạc

Nhựa composite

Amalgam bạc chứa bạc, thủy ngân, đồng, thiếc, đôi khi có kẽm, palladium, hoặc indium. Amalgam không tốn kém và tồn tại trung bình 14 năm. Tuy nhiên, nếu vệ sinh răng miệng tốt và nếu amalgam đã được cách li nước bọt bằng cách sử dụng một đê cao su, nhiều mối hàn amalgam có thể tồn tại > 40 năm. Amalgam là một loại vật liệu có độ bền cao với tỷ lệ thất bại hàng năm thấp hơn so với nhựa tổng hợp. Việc sử dụng amalgam đang giảm chủ yếu do sự xuất hiện của nó so với các vật liệu tổng hợp và các mối quan tâm về môi trường liên quan đến việc loại bỏ và thải bỏ thủy ngân. Mặc dù mối quan tâm về ngộ độc thủy ngân đã được tăng lên, số lượng mối hàn amalgam trên một người không liên quan đến mức độ thủy ngân trong máu. Việc thay thế hỗn hống không được khuyến khích vì nó tốn kém, làm hỏng cấu trúc răng, thực sự làm tăng khả năng tiếp xúc của bệnh nhân với thủy ngân và yêu cầu sử dụng thiết bị tách hỗn hống để loại bỏ hàm lượng thủy ngân của nó ra môi trường.

Nhựa composite, thẩm mỹ hơn, từ lâu đã được sử dụng với các răng trước, do tại đó yêu cầu thẩm mỹ là chính và lực nhai là tối thiểu. Nhiều bệnh nhân yêu cầu sử dụng composite ở những răng sau, và ngày nay nó đã được sử dụng phổ biến. Composite thế hệ đầu khi chịu lực nhai lớn thường chỉ tồn tại trong thời gian bằng một nửa amalgam và thường gây ra sâu răng tái phát bởi composite sẽ co lại khi nó trở nên cứng, nở ra và co lại khi tiếp xúc với nóng lạnh nhiều hơn mô răng và các vật liệu hàn răng khác. Các thế hệ composite hiện nay đã gần như có độ cứng tương tự men răng, có vẻ không có mức độ sâu răng tái phát cao như các thế hệ trước và có thể tồn tại lâu hơn. Việc sử dụng các vật liệu nhựa composite cho phép bảo tồn cấu trúc răng tốt hơn so với chế phẩm amalgam.

Ionomer thủy tinh, một chất hàn có màu răng, giải phóng fluor tại chỗ sẽ có lợi với bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân dễ bị sâu răng. Nó cũng được sử dụng để hàn các vùng bị phá hủy do đánh răng quá mạnh. Ionomer thủy tinh không thẩm mỹ như composite và không nên sử dụng ở mặt nhai vì nó có độ mài mòn cao. Vật liệu kính dán kính biến đổi nhựa cũng có sẵn và cung cấp một số cải tiến về mặt thẩm mỹ so với các loại kính dán thông thường.

Nếu còn lại quá ít ngà để giữ phục hình, nha sĩ thay thế phần ngà đó bằng cement, amalgam, composite, hoặc các vật kiệu khác. Đôi khi phải đặt một hoặc nhiều chốt vào chân răng để nâng đỡ cùi răng bằng vàng, bạc hoặc composite thay thế ngà thân răng. Thủ thuật này đòi hỏi phải khoan răng để lấy tủy và hàn kín hệ thống ống tủy. Hệ thống ống tủy được làm sạch, tạo hình, và sau đó hàn kín bằng gutta-percha. Các mặt ngoài của răng (vốn được che phủ bởi men răng) được mài đi và thay thế bằng chụp răng nhân tạo, thường bằng kim loại, hoặc sứ. Chụp các răng trước thường làm từ, hoặc được phủ bằng sứ.

Phòng ngừa

Thường xuyên đánh răng và dùng chỉ nha khoa

Nước, kem đánh răng chứa fluor, hoặc cả hai

Thường xuyên đến nha sĩ làm sạch răng

Hiếm khi dự phòng bằng chlohexidine và sử dụng chế phẩm của fluor dùng tại chỗ

Đối với hầu hết mọi người, sâu răng có thể phòng tránh được. Sâu răng đầu tiên hình thành trên răng vĩnh viễn vào đầu tuổi teen đến trước tuổi 20. Những người dễ bị sâu răng thường là những người ít tiếp xúc với fluor và có hệ vi khuẩn gây sâu răng mạnh được truyền từ mẹ hoặc do tiếp xúc xã hội. Duy trì vệ sinh răng miệng tốt và giảm thiểu lượng đường sử dụng là đặc biệt quan trọng.

Loại bỏ mảng bám ít nhất 24 giờ một lần, thường bằng cách đánh răng và dùng chỉ nha khoa, giúp ngăn ngừa sâu răng. Phần ba lợi của răng là khu vực quan trọng nhất để làm sạch nhưng lại là khu vực thường bị bỏ quên nhất. Đánh răng bằng bàn chải điện trong 2 phút là rất tốt; đánh răng bằng tay dùng bàn chải lông mềm kéo dài từ 3 đến 4 phút là đủ. Sử dụng kem đánh răng quá nhiều, đặc biệt là loại chứa chất mài mòn, có thể làm mòn răng. Chỉ nha khoa được đặt giữa các răng, áp vào cạnh mỗi răng, và di chuyển lên xuống 3 lần, đi ngay dưới viền lợi. Chỉ nha khoa rất mỏng hoặc được tráng bằng sáp hoặc polytetraethylene có thể sử dụng ở những vùng có tiếp xúc rất sát hoặc miếng hàn có đường viền thô.

Răng có chất floride tích hợp với men có tính kháng lại axit hủy khoáng cao hơn và dễ dàng tái khoáng khi pH tăng lên. Nếu nước uống không đủ lượng fluor, fluor bổ sung đường uống được khuyến cáo cho trẻ từ 6 tháng đến 16 tuổi Bổ sung fluor ở phụ nữ mang thai không được chứng minh là có thể ngăn ngừa sâu răng ở con cái và do đó không còn được khuyến khích (1). Phải lựa chọn liều fluor thích hợp dựa vào lượng fluor có trong nước uống và chế độ ăn, tuổi của trẻ, lượng fluor trong kem đánh răng và/hoặc sử dụng khi chăm sóc nha khoa. Tổng liều không được quá cao vì sẽ gây ra nhiễm fluor răng. Nên sử dụng thuốc đánh răng chứa fluor ở mọi lứa tuổi. Bởi vì trẻ nhỏ có thể nuốt kem đánh răng khi đánh răng, có thể gây nhiễm fluor, nên sử dụng kem đánh răng chứa lượng fluor thấp hơn dành riêng cho trẻ em.

Fluor có tác dụng kháng sâu răng thấp hơn ở các hố rãnh so với các bề mặt nhẵn. Các hố rãnh sâu, hẹp yêu cầu phải sử dụng sealants (vật liệu nhựa dính chặt vào bề mặt men răng) để chặn nguồn thức ăn của vi khuẩn, giảm sự phát triển và sinh axit của chúng.

Nếu những biện pháp này không làm giảm hình thành lỗ sâu, cần sử dụng biện pháp mạnh hơn để thay đổi hệ sinh vật. Sau khi sâu răng được điều trị, hố rãnh có thể chứa S. mutans, được bịt lại. Sau đó điều trị bằng cách súc miệng với 0,12% chlorinexidine trong 60 giây 2 lần trong 2 tuần, để có thể giảm các vi khuẩn gây sâu răng có trong mảng bám và cho phép tái lập hệ vi khuẩn với các chủng ít gây sâu răng hơn S. mutans. Để khuyến khích sự tái tạo này, xylitol ở dạng kẹo cứng hoặc kẹo cao su được sử dụng trong 5 phút 3 lần/ngày. Hơn nữa, có thể kê thuốc đánh răng có hàm lượng fluoride cao 5.000 ppm, hoặc nha sĩ có thể áp fluor tại chỗ hoặc cho bệnh nhân sử dụng máng nhai chứa fluor vào ban đêm.

Đối với phụ nữ mang thai có tiền sử sâu răng nghiêm trọng, các biện pháp phòng ngừa tập trung vào việc cải thiện sức khoẻ răng miệng được khuyến cáo (ví dụ, hạn chế thức ăn và đồ uống có đường, đánh răng hai lần mỗi ngày bằng chất tẩy rửa chứa fluor, xỉa răng hàng ngày và đôi khi không chứa cồn chứa chlorhexidine). Nếu không khả thi, người mẹ có thể sử dụng xylitol, như đã đề cập ở trên, kể từ khi đứa trẻ ra đời đến khi mà mẹ không còn cho trẻ bú nữa (phương thức di chuyển giả thuyết). Các can thiệp trước khi sinh có thể làm giảm chuyển vi khuẩn gây bệnh từ mẹ sang con và làm chậm sự hình thành sâu răng ở trẻ.

Để phòng ngừa bệnh sâu răng sữa (khi đã mọc lên) ở trẻ sơ sinh, chỉ nên uống nước vào giờ ngủ.